Lễ kí Hiệp Định Paris.

Chủ Nhật 27 tháng 1 năm 2013 sẽ là ngày kỷ niệm 40 năm Hiệp Định Paris về Việt Nam.

Được mệnh danh là ‘Hiệp Định Chấm Dứt Chiến Tranh Lập Lại Hòa Bình ở Việt Nam’, Hiệp Định Paris gồm 9 Chương 23 Điều và được ký kết tại Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973 bởi bốn ngoại trưởng đại diện cho bốn bên tham dự theo lập luận của Hà Nội, hoặc giữa 2 bên - tức là phe đồng minh và phe cộng sản - theo quan điểm của Sài Gòn. Đó là ông William P. Rogers, Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao thay mặt Chính Phủ Hoa​Kỳ và ông Trần Văn Lắm, Tổng Trưởng Ngoại Giao thay mặt Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa, ông Nguyễn Duy Trinh, Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao thay mặt Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và bà Nguyễn Thị Bình, Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao thay mặt Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam.

 

Chữ kí ông Nguyễn Duy Trinh và bà Nguyễn Thị Bình..

Tuy nhiên, hai nhân vật quan trọng nhất trong tiến trình kéo dài trên bốn năm từ ngày 13 tháng 5 năm 1968 khi Hòa Đàm Paris bắt đầu đến ngày 27 tháng 1 năm 1973 khi Hòa Đàm Paris kết thúc là Tiến sĩ Henry Kissinger, Cố Vấn An Ninh của Tổng thống Mỹ Richard Nixon và ông Lê Đức Thọ, Ủy Viên Bộ Chính Trị Đảng Lao Động tức là Đảng Cộng Sản Việt Nam. Ông Kissinger và ông Lê Đức Thọ đã mật đàm nhiều lần với nhau để mặc cả khai thông Hòa Đàm mà Washington lại không thông báo với đồng minh Sài Gòn.

Chính quyền Hà Nội trước đây và bây giờ, lúc nào cũng coi Hiệp Định Paris là một chiến thắng ngoại giao lớn của phe cộng sản trong cuộc chiến Việt Nam. Hà Nội đã có thể đạt được chiến thắng ngoại giao này là vì Washington đã nhượng bộ, bất chấp phản đối mạnh mẽ của Sài Gòn, hai yếu tố quan trọng quyết định cuộc chiến Việt Nam về mặt pháp lý và thực tế chiến trường:

Điều 1 của Hiệp Định Paris qui định rằng: “Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Giơ-ne-vơ năm một nghìn chín trăm năm mươi tư về Việt Nam đã công nhận.”

Nhìn từ quan điểm của Hà Nội, đây là cơ sở pháp lý cho phép Cộng sản Bắc Việt xâm chiếm Miền Nam Việt Nam bằng võ lực.

Điều 3 khoản (a) của Hiệp Định Paris viết rằng: “Các bên cam kết giữ vững ngừng bắn, bảo đảm hòa bình lâu dài và vững chắc. Bắt đầu từ khi ngừng bắn: Các lực lượng của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác đồng minh của Hoa Kỳ và của Việt Nam cộng hòa sẽ ở nguyên vị trí của mình trong lúc chờ đợi thực hiện kế hoạch rút quân." Và điều 5 qui định rằng việc rút quân này sẽ hoàn tất trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày ký Hiệp Định.

Điều 3 và Điều 5 của Hiệp Định Paris thay đổi hoàn toàn cán cân quân sự tại chiến trường, vì Hà Nội chẳng những được quyền duy trì Bộ đội Bắc Việt tại Miền Nam, theo Hiệp Định, mà còn trắng trợn vi phạm Hiệp Định, khi ồ ạt chuyển quân vào Nam sau ngày 27 tháng 1 năm 1973 trong chiến dịch gọi là ‘Đại Thắng Mùa Xuân’ đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi bộ đội cộng sản Miền Bắc tiến vào chiếm đóng Thủ đô Sài Gòn.

Vậy thì bối cảnh nào đã đưa đẩy đến Hiệp Định Paris 1973 và tại sao VNCH đã phải ký tên vào Hiệp Định khi biết rằng Hiệp Định này hoàn toàn bất lợi? Sài Gòn đã chống đối Washington như thế nào và đã nỗ lực vận động các đồng minh khác ra sao?

Chúng tôi nêu lên các câu hỏi này với Ls Lưu Tường Quang tại Sydney. Cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông Lưu Tường Quang, phục vụ tại Trung Ương Bộ Ngoại Giao ở Sài Gòn cũng như tại Đại Sứ Quán Việt Nam Cộng Hòa ở Canberra, đã đảm nhận một vài nhiệm vụ có ít nhiều liên hệ đến Hiệp Định Paris.

Ngọc Hân: Thưa ông Lưu Tường Quang – Nhìn lại cục diện chính trị của những năm sau cùng thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, những yếu tố nào đã đưa đẩy đến Hiệp Định 1973 về Việt Nam?

Lưu Tường Quang: Thưa cô Ngọc Hân và kính chào quí vị thính giả Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ – Trừ phi có một chiến thắng quân sự rõ rệt, cuộc chiến nào cũng được giải quyết bằng một tiến trình thương thuyết hòa bình. Điểm khác biệt nổi bật trong cuộc chiến Việt Nam là một chiến thắng quân sự đã đạt được hoàn toàn nhờ vào một hiệp định gọi là để ‘lập lại hòa bình’. Hà Nội đã ký kết Hiệp Định Paris, vì họ đánh giá là Hiệp Định cho họ cơ hội chiến thắng quân sự, một thành quả mà họ đã không đạt được tại chiến trường, trước khi Hiệp Định được ký kết.

Còn tại Washington, chính phủ Mỹ thúc đẩy việc ký kết Hiệp Định, vì Mỹ cần Hiệp Định này để giải kết khỏi Việt Nam gọi là ‘trong danh dự’. Lúc vận động tranh cử, cũng như sau khi đắc cử và nhậm chức vào đầu năm 1969, Tổng Thống Richard Nixon lúc nào cũng sử dụng nhóm chữ ‘hòa bình trong danh dự’ khi nói về cuộc chiến Việt Nam. Tuy nhiên, chính phủ Mỹ đã mất ý chí chính trị để tiếp tục trợ giúp quân sự cho Sài Gòn dưới thời Tổng Thống Đảng Dân Chủ Lyndon Johnson, khi Hà Nội mở cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968. Hà Nội đã thất bại nặng nề về mặt quân sự tại Miền Nam và về mặt chính trị vì nhân dân Miền Nam đã không ‘nổi dậy’ như Hà Nội mong đợi, nhưng Hà Nội lại chiến thắng chính trị tại Washington, khi Tổng Thống Johnson quyết định không tái tranh cử và bắt đầu tiến trình thương thuyết với Hà Nội ngày 13 tháng 5 năm 1968.

Tổng thống kế nhiệm Richard Nixon đã bắt đầu kế hoạch ‘giải kết’ này với chương trình Việt-Nam-hóa [Vietnamization] mà ông đã thảo luận và áp đặt với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tại Hội Nghị Thượng Đỉnh Việt-Mỹ ở Midway ngày 8 tháng 6 năm 1969 tức là ngày 9 tháng 6 tại Sài Gòn. Tôi đã tháp tùng Ngoại Trưởng Trần Chánh Thành trong Phái Đoàn Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tham dự Hội Nghị Thượng Đỉnh Midway này. Sau đó vào ngày 25 tháng 7 năm 1969 tại Guam ông Nixon công bố chính sách gọi là Chủ thuyết Nixon – theo đó Mỹ phân biệt 3 loại đồng minh: đồng minh mà Mỹ có nghĩa vụ kết ước, đồng minh mà Mỹ không có nghĩa vụ kết ước nhưng bị đe dọa tấn công bằng võ khí nguyên tử, và thứ 3 là nhóm quốc gia khác như Việt Nam Cộng Hòa, tức là không bị tấn công nguyên tử và không có hiệp ước với Mỹ - thì phải ‘tự lực cánh sinh’ trước khi được Mỹ giúp đỡ.

Ngoài những áp lực chính trị quốc nội, một diễn tiến quan trọng khác trên chính trường quốc tế, là vào tháng 2 năm 1972, Tổng thống Nixon thăm viếng Bắc Kinh và ký Thông Cáo Chung Thượng Hải với Chu Ân Lai để công nhận và thiết lập bang giao với Trung Quốc. Với biến chuyển này, cuộc chiến chống Cộng tại Miền Nam Việt Nam không còn quan trọng trong chính sách Châu Á của Mỹ.

Ngọc Hân: Đã đánh giá là dự thảo Hiệp Định Paris hoàn toàn bất lợi, nhưng tại sao chính phủ VNCH lại ký tên vào Hiệp Định và Sài Gòn đã có các nỗ lực cải thiện Hiệp Định như thế nào với Mỹ và các đồng minh khác, thưa ông Lưu Tường Quang?

Lưu Tường Quang: Tiến sĩ Kissinger đến Sài Gòn hồi tháng 10 năm 1972 với bản dự thảo Hiệp Định mà ông chuẩn bị ký tắt với ông Lê Đức Thọ tại Hà Nội, nếu được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đồng ý. Tất nhiên, Tổng Thống Thiệu bác bỏ dự thảo này, vì dự thảo hoàn toàn trái ngược lập trường cố hữu của Sài Gòn là: Hà Nội cũng phải rút bộ đội cộng sản trở về Miền Bắc, như các quăn đội ngoại nhập khác tại Miền Nam. Ông Kissinger không thể đi Hà Nội như mong muốn mà phải trở về Washington.

Đến tháng 12 năm 1972, Tổng thống Nixon lại gởi Tướng Alexander Haig, Phụ tá Cố Vấn An Ninh, đến Sài Gòn với bản dự thảo không khác gì bản dự thảo trước, với lời đe dọa là nếu Tổng Thống Thiệu tiếp tục chống đối, Mỹ dự trù ký kết một mình với Hà Nội và cắt đứt viện trợ cho VNCH.

Chữ kí ông William Rogers và ông Trần Văn Lắm..

​​Sau năm 1975, tại Canberra, cựu ngoại trưởng Trần Văn Lắm đã nhiều lần xác nhận với tôi về sự bế tắc này, khiến ông phải ký tên vào Hiệp Định Paris 1973. Tất nhiên, trong tình trạng bang giao bế tắc với Mỹ, Tổng thống Thiếu đã gởi nhiều sứ giả đi vận động các đồng minh khác của VNCH nhưng không đạt được sự ủng hộ mong đợi.

Thứ trưởng Ngoại Giao Trần Kim Phượng, cựu đại sứ tại Kuala Lumpur và Canberra, phụ trách công tác vận động với Malaysia, Sinpapore và Australia. Ngày thứ Sáu 3 tháng 11 năm 1972, tôi đã từ Canberra đến Sydney để tham dự cuộc thảo luận giữa Đặc sứ Trần Kim Phượng và Ngoại trưởng Úc Nigel Bowen trong chính phủ liên đảng Tự Do-Quốc Gia - là thế lực chính trị Australia đã quyết định tham chiến taị Việt Nam hồi năm 1965. Ngoại trưởng Bowen từ chối ủng hộ Sài Gòn trong nỗ lực chống lại Washington.

 

Tàu hải giám Trung Quốc tiếp tục tuần tra Biển Đông

Một tàu hải giám Trung Quốc trong vùng biển Hoa Đông..

Hai đội tàu hải giám của Trung Quốc đang thực hiện các nhiệm vụ tuần tra riêng rẽ cùng một lúc trên Biển Đông.

Truyền thông nhà nước Trung Quốc dẫn nguồn tin từ Cục Hải dương Quốc gia cho biết tàu Hải giám 84 và 74 rời cảng Quảng Châu hôm thứ hai và đã tới các vùng biển phía Nam quần đảo Hoàng Sa và sẽ tiếp tục tuần tra hướng về phía Nam.

Một đội tàu khác cũng khởi sự nhiệm vụ hôm thứ hai khi tàu Hải giám 262 và 263 rời Tam Á để tuần tra các vùng biển gần Vịnh Bắc Bộ.

Thông cáo của Cục nói cả hai đội tàu không phát hiện có tàu nước ngoài xâm nhập lãnh hải Trung Quốc bất hợp phá và cũng không thấy có những tình huống bất thường.

Trong năm 2012, các tàu hải giám của Trung Quốc thực hiện khoảng 58 cuộc tuần tra ở Biển Đông, theo thống kê của Cục Hải Dương Quốc gia Trung Quốc.

Giám đốc Cục này cho biết Bắc Kinh sẽ tiếp tục tiến hành các cuộc tuần tra thường lệ để bảo vệ quyền hàng hải và lợi ích quốc gia tại các vùng biển mà Trung Quốc giành chủ quyền ở Biển Đông đang có tranh chấp với Việt Nam và một số nước khác cũng như tại vùng biển ngoài khơi quần đảo Điếu Ngư Đài mà Bắc Kinh đang tranh chủ quyền với Nhật Bản.

Nguồn: Xinhua, CCTV

 

Blogger Paulus Lê Văn Sơn và bản án 13 năm

Blogger Paulus Lê Văn Son.

Một tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế công bố bằng chứng chính minh một blogger vừa bị Việt Nam kết án 13 năm tù về tội ‘hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân’ là vô tội. Blogger Lê Văn Sơn là một trong 3 bị can lãnh án cao nhất trong nhóm 14 nhà hoạt động Công giáo trẻ cổ súy cho dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam bị tuyên án hôm 9/1 với cáo buộc tham gia các hoạt động với đảng Việt Tân ở hải ngoại.

Tổ chức Phóng viên Không biên giới RSF có trụ sở tại Pháp nói các bản án Hà Nội đưa ra dựa trên các cáo buộc giả tạo khi cho rằng Sơn tham gia khóa huấn luyện đấu tranh bất bạo động của Việt Tân tại Thái Lan hồi tháng 7/2011.

​​
Chứng cớ của Phóng viên Không Biên giới

Bằng chứng RSF là gì, có tính thuyết phục ra sao? Trong cuộc trao đổi với Trà Mi hôm 11/1 ngay sau khi công bố thông cáo báo chí, ông Benjamin Ismail, Giám đốc phụ trách khu vực Châu Á-Thái Bình Dương trong tổ chức RSF, cho biết:


Benjamin Ismail: Chúng tôi công bố tấm ảnh chụp Lê Văn Sơn tham gia khóa huấn luyện với tổ chức Phóng viên Không biên giới trong khoảng thời gian cuối tháng 7 năm 2011. Khóa học mà cáo trạng của Việt Nam đề cập tới trong khoảng thời gian đó là khóa huấn luyện của RSF chúng tôi chứ không phải là của Việt Tân. Cáo trạng của Việt Nam đã đưa ra thông tin sai cho nên chúng tôi tin rằng Sơn đã bị kết tội dựa vào những những cáo buộc giả dối.

Trà Mi: Khóa huấn luyện của RSF được tổ chức ngày nào, thưa ông?

Benjamin Ismail: Chúng tôi không thể tiết lộ tất cả mọi chi tiết của khóa huấn luyện RSF tổ chức vì có liên hệ tới các thành viên tham gia khác nữa. Tuy nhiên, chúng tôi có thể xác quyết rằng khóa huấn luyện đề cập tới trong cáo trạng của Việt Nam đối với Sơn thật ra là khóa huấn luyện của chúng tôi.

Trà Mi: Nhưng ông quả quyết rằng ngày giờ của khóa huấn luyện mà cáo trạng Việt Nam nói là Sơn tham gia với Việt Tân trùng khớp hoàn toàn với ngày giờ khóa huấn luyện Sơn tham gia với RSF?

Benjamin Ismail: Điều chúng tôi đoan chắc là vào thời điểm đó Sơn có mặt tại Bangkok vì chúng tôi tổ chức chuyến đi của Sơn tới đây để tham gia chỉ mỗi khóa huấn luyện của RSF chứ không có một khóa huấn luyện nào khác vào lúc đó.

Trà Mi: Ông có tìm hiểu xem cáo trạng của Việt Nam nói về khóa huấn luyện mà họ cho là Sơn tham gia với Việt Tân có nêu ra ngày giờ nào khác nữa ngoài khung thời gian cuối tháng 7/2011 không, thưa ông?

Benjamin Ismail: Thời gian họ đề cập tới trùng hợp với thời gian của khóa huấn luyện chúng tôi tổ chức mà Sơn tới tham gia. Tòa đã thiếu thông tin, đã có sai sót ngay từ đầu.

Trà Mi: Làm thế nào RSF có thể chứng minh rằng khóa huấn luyện mà Sơn tham gia với RSF đã diễn ra vào đúng khoảng thời gian mà cáo trạng nói tới chứ không phải ở một thời điểm nào khác?

Benjamin Ismail: Chúng tôi không thể tiết lộ công khai các chi tiết cụ thể về khóa huấn luyện của chúng tôi vì an toàn-an ninh cho những người tham gia. Nhưng tôi chắc chắn là tòa án Việt Nam không thể chứng minh được là Sơn tham gia một khóa huấn luyện nào khác tại Bangkok vào thời điểm đó vì Sơn chỉ tham dự duy nhất một khóa huấn luyện của chúng tôi vào thời điểm đó mà thôi. Thậm chí nội dung khóa huấn luyện mà cáo trạng nhắc tới đúng là nội dung khóa huấn luyện của RSF chúng tôi. Nếu họ phản bác thì họ phải chứng minh rằng có một khóa huấn luyện khác cùng thời điểm mà Sơn cùng lúc tham gia. Tôi tin chắc 100% rằng họ không thể chứng minh được điều đó. Chúng tôi muốn lên án và chứng minh với công luận rằng luận cứ Việt Nam đưa ra là vô lý. Thông tin chúng tôi đưa ra cho thấy toàn bộ cáo buộc của Việt Nam là không có thực, giả tạo nhằm bóp nghẹt những tiếng nói chỉ trích nhà nước.

Trà Mi: Nếu nhà cầm quyền Việt Nam không cân nhắc tới bằng chứng RSF đưa ra, ông nghĩ thế nào?

Benjamin Ismail: Chúng tôi thật sự mong rằng Việt Nam sẽ xem xét đến lời khai chứng của chúng tôi. RSF sẵn sàng hợp tác và có cách cung cấp những thông tin cần thiết hầu chứng minh Lê Văn Sơn vô tội. Nếu Hà Nội hô hào là một chính phủ tôn trọng nhân quyền thì họ có trách nhiệm phải xem xét tới thông tin này.


Ý kiến luật sư

Chứng cớ RSF vừa công bố công khai có thể giúp ích thế nào cho nhà hoạt động trẻ Lê Văn Sơn? Chúng tôi hỏi thăm đại diện pháp lý của Sơn, luật sư Nguyễn Thị Huệ. Bà cho biết:

Luật sư Nguyễn Thị Huệ: Trong hồ sơ thể hiện rằng Sơn có tham gia khóa học tháng 7/2011 tại Thái Lan tên là Quang Trung 711. Luật sư bào chữa theo hướng Sơn vô tội vì có ít nhất ba người tại tòa như bị cáo Hồ Đức Hòa, Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Nông Hùng Anh nói rằng không biết Sơn và không gặp Sơn trong khóa học đó.

Trà Mi: Ngoài ra trong hồ sơ vụ án có đưa ra một khoảng thời gian nào khác, cáo buộc Sơn tham gia các khóa học nào trong thời điểm nào khác không hay chỉ có trong khoảng thời gian cuối tháng 7/2011 thôi, thưa luật sư?

Luật sư Nguyễn Thị Huệ: Trong cáo trạng chỉ nói rằng Sơn tham gia khóa học đó thôi, vào thời gian đấy thôi, không nói tới một khóa học nào khác.

Trà Mi: Và họ khẳng định khóa học đó là do Việt Tân tổ chức?

Luật sư Nguyễn Thị Huệ: Vâng đúng.

Trà Mi: Phản hồi của bị cáo Sơn thế nào, anh nhận hay không nhận?

Luật sư Nguyễn Thị Huệ: Bị cáo Sơn trong suốt quá trình làm việc với cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa gần như Sơn không khai gì hết và Sơn không nhận tất cả các hành vi. Trong hồ sơ đưa ra nội dung là Sơn đã tham gia khóa học đó. Luật sư thấy không có đủ căn cứ để cho rằng Sơn đã tham gia khóa học đó, cho nên luật sư nói rằng Sơn không tham gia Việt Tân trong thời gian đó.

Trà Mi: Với chi tiết Phóng viên Không biên giới vừa đưa ra, luật sư nghĩ có cơ sở để vụ án của Lê Văn Sơn được mở lại hay được điều tra bổ sung thế nào không?

Luật sư Nguyễn Thị Huệ: Tất nhiên nếu có bằng chứng Sơn không tham gia khóa học đó (với Việt Tân) thì rất tốt cho Sơn.

Trà Mi: Khả năng có thể xin được điều tra bổ sung hay mở lại vụ án của Sơn như thế nào, thưa luật sư?

Luật sư Nguyễn Thị Huệ: Vụ án mới là sơ thẩm. Trong 15 ngày các bị can có thể kháng cáo. Trong quá trình kháng cáo có thể có những tình tiết mới có thể đề nghị trả hồ sơ để điều tra bổ sung, làm rõ các tình tiết chưa thỏa đáng, chưa đủ căn cứ.


Phản hồi của đảng Việt Tân

Trong khi blogger Lê Văn Sơn không khai nhận gì trước cáo buộc của Việt Nam rằng khóa học Sơn tham gia tháng 7 năm 2011 tại Bangkok là của Việt Tân, RSF nói đó là khóa huấn luyện của họ tổ chức cho các blogger tại một số nước Đông Nam Á nói về tác dụng và cách quản trị của các trang mạng xã hội trong việc cổ súy tự do thông tin và tự do internet tại các nước bị nhà cầm quyền kiểm duyệt gắt gao. Vậy ý kiến của tổ chức Việt Tân thế nào? Đáp câu hỏi của Trà Mi, đảng Việt Tân nói họ “xác nhận những gì RSF đã loan báo về blogger Lê Văn Sơn là chính xác”. Tổ chức chính trị cổ súy dân chủ cho Việt Nam có trụ sở ở Mỹ nói “việc tham dự các khóa huấn luyện không có gì sai và là quyền của mọi người. Việt Tân cũng tố cáo rằng “trong bản cáo trạng của Việt Nam có rất nhiều dữ kiện không đúng, điển hình là vấn đề cáo buộc blogger Lê Văn Sơn đã tham dự một khóa học của đảng Việt Tân vào cuối tháng 7/2011.”


Nhân thân blogger Lê Văn Sơn

Trái với mô tả của báo chí nhà nước rằng blogger Lê Văn Sơn là đối tượng phản động nguy hiểm, có những hoạt động nhằm ‘lật đổ chính quyền nhân dân’, các trang báo công dân, các trang mạng truyền thông xã hội độc lập, những người biết đến Sơn và các công việc anh cùng các bạn tình nguyện viên của truyền thông Dòng Chúa Cứu Thế và của tổ chức thiện nguyện mang tên Ban Bảo Vệ Sự Sống nói Sơn là một thanh niên khao khát một xã hội công bằng, dân chủ và nhân quyền được tôn trọng. Ít ai biết rằng chàng trai 8x đầy nhiệt huyết, luôn tích cực trong các công tác từ thiện giúp đỡ người khác lại xuất thân từ một gia đình khốn khó đầy nghịch cảnh.

Ông Đỗ Văn Phẩm, người cậu cưu mang Sơn, cho biết: Gia đình Sơn chỉ có một mình Sơn thôi. Hoàn cảnh gia đình thì quá khổ sở. Mang tiếng là có bố, nhưng bố không nhìn ngó gì đến cháu từ lúc mới sinh ra. Chỉ có mẹ với bên ngoại không thôi. Bên ngoại cũng khó khăn, nhưng cũng cố gắng tạo điều kiện cho cháu ăn học vì mẹ Sơn là con đầu bên ngoài. Gia đình mỗi người hùn vô mỗi tí cho cháu ăn học đàng hoàng. Cháu học hết đại học du lịch thì cháu đi làm. Mẹ cháu bệnh tật, ốm đau nặng, mất mùng một tháng tư năm ngoái. Đến giờ cháu cũng chưa biết mẹ cháu mất. Gia đình không dám cho cháu biết. Cháu đang bị cái bức xúc như thế mà cho cháu biết sợ cháu uất quá.

Trà Mi: Sơn đã tốt nghiệp đi làm, công việc làm của Sơn thế nào và các hoạt động chính trị-xã hội của Sơn, gia đình có được biết không?

Ông Đỗ Văn Phẩm: Cháu đi tour du lịch hướng dẫn cho khách. Những ngày rỗi, cháu đi làm từ thiện, đi xin của người giàu phân phát cho người nghèo, đi nhặt các thai nhi bị vứt bỏ. Cháu cứ làm từ thiện vậy thôi chứ không làm gì sai cả.

Trà Mi: Ông có hy vọng trong phiên phúc thẩm mọi chuyện sẽ thay đổi với chi tiết mới RSF vừa đưa ra hay không?

Ông Đỗ Văn Phẩm: Tôi có gặp cháu một lần trong thời gian cháu bị giam giữ hơn 1 năm. Cháu dặn tôi về nói với mẹ và gia đình rằng: ‘Cháu là người vô tội, Việt Nam bắt cháu, nhưng cháu vô tội thì cũng chả làm gì được cháu đâu. Cứ yên tâm về cháu.’  Cháu hiện giờ là trụ cột trong gia đình. Cháu không có tội mà giam giữ cháu như vậy thì gia đình tôi cũng hết lòng bức xúc, nhưng không làm gì được cả. Khóa truyền thông họ dạy như thế, Sơn lại càng vô tội. Gia đình chăm sóc cháu từ lúc mới sinh ra tới giờ cháu 27, 28 tuổi, rất hiểu tính cháu. Cháu không làm gì mất lòng ai cả. Cháu chỉ có yêu thương người. Những tiếng nói của cháu chỉ là bảo vệ cho dân thôi, chả làm gì nên tội mà nhà nước Việt Nam kết án tới 13 năm. Gia đình bức xúc quá. Giờ gia đình cũng mong các đài truyền thông quốc tế và thế giới yêu cầu Việt Nam thả các con người vô tội ấy ra thôi.

Trà Mi: Ông hy vọng truyền thông quốc tế lên tiếng, nhưng ông có hy vọng Việt Nam sẽ thay đổi bản án cho Sơn không?

Ông Đỗ Văn Phẩm: Theo tôi, có thay đổi cũng chả được mấy năm đâu. Họ đã ghép cho cháu như vậy rồi. Cháu nói cháu không có tội nên cháu không khai một cái gì cả. Cho nên, họ ghép cho cháu tội nặng vì cứng đầu vậy thôi.

Trà Mi: Ông có được tin Sơn có quyết định kháng cáo hay không?

Ông Đỗ Văn Phẩm: Cũng chưa có một tin gì. Tôi gọi điện thoại cho phòng điều tra công an tỉnh, hỏi thăm cháu đang bị giam ở đâu để đi gửi ít áo ấm và đồ ăn cho cháu trong thời tiết rét mướt này. Công an tỉnh nói không biết Sơn ở đâu, thì dân như tôi biết làm sao được. Sức khỏe cháu giờ sa sút vì rét và luật sư có cho biết là mấy đợt đồ lúc trước tôi gửi vào trong trại ở số 1 Hỏa Lò mà cháu không nhận được gì cả. Cháu thiếu ăn, thiếu mặc, nên sa sút.


Tạp chí Thanh Niên vừa cùng các bạn tìm hiểu một số thông tin về vụ án của nhà hoạt động trong độ tuổi 20 từng được Tổ chức Phóng Viên Không Biên giới RSF đề cử Giải thưởng Cư dân mạng Quốc tế năm 2012, blogger Lê Văn Sơn.

Add comment

Quý vị có thể đưa ý kiến của mình vào khung phía dưới. Những ý kiến sẽ không được đăng như: phỉ báng, mạ lị; vu khống; dùng lời lẽ thiếu văn hóa trong tranh luận; lạc đề. Ưu tiên đăng các lời phê bình, góp ý xây dựng. Ý kiến của quý vị sẽ được BBT đăng trong thời gian sớm nhất. Các bài viết được đăng tải trên www.vietvungvinh.com không phản ánh quan điểm hay lập trường của chúng tôi Mỹ Lợi đồng thời không chịu trách nhiệm về nội dung các ý kiến.
HƯỚNG DẪN CÁCH VIẾT TRONG MỤC ADD COMMENT:
- Trong ô Name: Ghi tên của quý vị (có thể ghi tên tượng trưng (tên giả), tên thật, biệt hiệu, bút hiệu, v.v...)
- Trong ô Email: Ghi địa chỉ email của quý vị (ghi địa chỉ email thật nếu quý vị muốn có sự liên lạc với tác giả bài viết, bạn đọc v.v..., nếu quý vị muốn ghi địa chỉ email giả vẫn được)
- Trong khung nội dung góp ý: Quý vị đánh máy phần nội dung có dấu tiếng Việt, hoặc không dấu tối đa 1000 chữ cái.
- Check hoặc không check vào ô nhỏ trước cụm chữ: Notify me of follow-up comments: Nếu check vào ô này, chúng tôi sẽ gởi email đến quý vị khi góp ý của quý vị đã đăng.
- Ô CAPTCHA: Có 5 ký tự, quý vị gõ đúng 5 ký tự này vào ô ở dưới chữ Refresh. Nhớ gõ cho đúng chữ hoa hoặc không hoa đang hiện trong ô Captcha. Nếu quý vị nhìn không rõ 5 ký tự này, hãy bấm vào chữ Refresh nhiều lần, cho đến khi nào thấy rõ 5 ký tự thì ngưng, rồi gõ vào ô ở dưới .
- Cuối cùng bấm Send là xong. Nhưng nếu trường hợp bấm Send mà vẫn không "đi", nguyên do là quý vị gõ 5 ký tự không đúng, thì quý vị bấm Refresh nhiều lần cho đến khi nào thấy 5 ký tự khác rõ ràng thì ngưng lại và gõ đúng 5 chữ này vào ô phía dưới, rồi bấm send.
Tại sao lại làm phiền người góp ý phải gõ CAPTCHA (5 ký tự) "rắc rối" này? Xin thưa, phần nhập mã này là chương trình dùng để ngăn chặn việc gửi các truy vấn hàng loạt của các bot (chương trình tự động được lập trình để gửi spam) gửi đến các máy chủ của website có thể làm nghẽn mạng, đánh sập các server, nếu như không có chốt chặn CAPTCHA.
Để chuyển đổi chữ Việt không có dấu thành chữ Việt có dấu, hãy copy và paste vào trang: http://www.easyvn.com/tiengviet/index.php


Security code
Refresh